Hỏi Đáp

LGBT là gì – Wikipedia tiếng Việt

Lá cờ cầu vồng 6 màu đại diện thay mặt cho LGBTQ +Cờ biểu tượng của cộng đồng LGBTQ+ tượng trưng sự đa dạng giới tính, sự đa dạng định giới và đa dạng xu hướng tính dục Cờ hình tượng của hội đồng LGBTQ + tượng trưng sự phong phú giới tính, sự phong phú định giới và phong phú xu thế tính dục

LGBT+ hoặc LGBTQ+ là các chữ cái viết tắt của Lesbian (đồng tính luyến ái nữ), Gay (đồng tính luyến ái nam), Bisexual (song tính luyến ái), Transgender (chuyển giới) và Queer (có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác biệt, hoặc không nhận định mình theo bất kỳ nhãn nào) hoặc Questioning (đang trong giai đoạn Tìm Hiểu Thêm bản thân). Dấu cộng đại điện cho sự tồn tại đa dạng của các nhóm khác trong cộng đồng như: N là Non-binary (phi nhị nguyên giới), I Intersex (liên giới tính), A Asexual (vô tính luyến ái)…

LGBT là gì – Wikipedia tiếng Việt

LGBTQ + bộc lộ sự phong phú của con người dựa trên xu thế tính dục ( sexual orientation ), bản dạng giới ( gender identity ), [ 1 ] bộc lộ giới ( gender expression ) và thiên hướng tình dục ( sexual attraction ). Xu hướng tính dục có những nhóm phổ cập : dị tính luyến ái ( heterosexual ), đồng tính luyến ái ( homosexual ), tuy nhiên tính luyến ái ( bisexual ), toàn tính luyến ái ( pansexual ), vô tính luyến ái ( asexual ), … Theo bản dạng giới hoàn toàn có thể có : nam, nữ, phi nhị nguyên giới, linh động giới, vô giới, … và người có bản dạng giới trái với giới tính chỉ định ( sex assigned at birth ) của mình là người chuyển giới, ngược lại người người có bản dạng giới tương thích với giới tính chỉ định là người hợp giới ( cisgender ) .

Bạn đang đọc: LGBT là gì – Wikipedia tiếng Việt

Lịch sử thuật ngữ

LGBT thay vì thêm các chữ cái mới và giải quyết các vấn đề về vị trí của các chữ cái trong tiêu đề mới.[5]Các ấn phẩm LGBT +, lễ diễu hành tự hào và những sự kiện tương quan như sân khấu này tại Bologna Pride 2008 ở Ý, tiếp tục sử dụng thuật ngữthay vì thêm những vần âm mới và xử lý những yếu tố về vị trí của những vần âm trong tiêu đề mới . Lá cờ tân tiến được phong cách thiết kế bởi Daniel Quasar vào năm 2018 nhằm mục đích nâng cao nhận thức về những người queer da màu, người chuyển giới và những người đã mất mạng vì bệnh HIV / AIDS .

Thuật ngữ LGBT bắt đầu được sử dụng từ những năm 1990, tên viết tắt này bắt nguồn từ LGB, được dùng để thay thế thuật ngữ gay do sự xuất hiện của cộng đồng LGBT+ vào nửa cuối thập niên 1980, khi những nhà hoạt động xã hội tin rằng cụm từ cộng đồng gay không đại diện chính xác và bao gồm những người mà nó nói đến.

Người đồng tính (homosexual), cụm từ được sử dụng rộng rãi đầu tiên giờ đây mang một hàm ý tiêu cực ở nước Mỹ.[6] Sau đó, nó được thay thế bởi homophile vào những năm 1950 và 1960,[7][8][9][Còn mơ hồ – thảo luận] và tiếp theo là gay vào những năm 1970; cụm từ gay được chấp nhận trước bởi cộng đồng người đồng tính.[10]

Tìm hiểu thêm: PayPal nghĩa là gì? Cách tạo và thiết lập tài khoản PayPal nhanh chóng

Khi mà những người đồng tính nữ ngày càng tạo dựng được sự hiện hữu, thì cụm từ “ đồng tính nam ( Gay ) và đồng tính nữ ( Lesbian ) ” cũng trở nên thông dụng hơn. [ 11 ] Một cuộc tranh cãi về việc liệu tiềm năng chính trị của người đồng tính nữ nên là nữ quyền hay quyền của người đồng tính đã dẫn đến sự tan rã của 1 số ít tổ chức triển khai dành cho người đồng tính nữ, gồm có Daughters of Bilitis, tan rã vào 1970, theo đó là tranh cãi về việc nên đặt yếu tố nào là ưu tiên số 1 trước. [ 12 ] Khi mà sự bình đẳng là ưu tiên số 1 so với những nhà nữ quyền đồng tính nữ, sự bất tương ứng vai vế giữa nam và nữ cũng như giữa butch ( tính nam ) và femme ( tính nữ ) bị coi là biểu lộ của chính sách phụ quyền. Các nhà nữ quyền đồng tính nữ đã tránh mặt vai trò về giới – thứ đang thông dụng ở những quán bar khi đó – cũng như ” chủ nghĩa sô vanh ” của những người đồng tính nam ; nhiều nhà nữ quyền đồng tính nữ phủ nhận hợp tác với người đồng tính nam, hoặc đảm nhiệm thiên chức của họ. [ 13 ]Những người đồng tính nữ giữ quan điểm thực chất luận, rằng họ sinh ra là đồng tính luyến ái và sử dụng từ ” đồng tính nữ ” để định nghĩa sự mê hoặc về tình dục, thường coi những quan điểm ​ ​ ly khai của những người theo chủ nghĩa nữ quyền là bất lợi cho thực chất quyền của người đồng tính. [ 14 ] Những người tuy nhiên tính và chuyển giới cũng tìm kiếm sự công nhận là những nhóm chính thức trong hội đồng thiểu số lớn hơn. [ 11 ]

Trước sự phấn khởi về sự thay đổi sau hành động nhóm trong cuộc bạo loạn Stonewall năm 1969 ở thành phố New York, vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, một số người đồng tính nam và đồng tính nữ dần trở nên ít chấp nhận người song tính hoặc chuyển giới hơn.[15][16] Các nhà phê bình[ai nói?] nói rằng những người chuyển giới thể hiện không đúng theo các khuôn mẫu về họ và những người song tính chỉ đơn giản là những người đồng tính nam hoặc đồng tính nữ người e sợ phải công khai và thành thật về bản dạng của họ.[15] Mỗi cộng đồng đã phải đấu tranh để phát triển bản sắc riêng của mình bao gồm cả việc liệu có nên hay không và làm thế nào, để hòa hợp với những cộng đồng dựa trên giới và tính dục khác, dẫn đến việc đôi khi loại trừ các phân nhóm nhỏ hơn; những xung đột này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.[16] Các nhà hoạt động LGBT+ và các nghệ sĩ đã sử dụng những áp phích để nâng cao nhận thức về vấn đề này kể từ khi phong trào bắt đầu.[17]

Từ khoảng năm 1988, các nhà hoạt động bắt đầu sử dụng thuật ngữ LGBT ở Hoa Kỳ.[18] Mãi đến những năm 1990, trong phong trào này, người đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính và chuyển giới mới được tôn trọng một cách bình đẳng.[16] Điều này đã thúc đẩy một số tổ chức áp dụng những cái tên mới, như Hiệp hội Lịch sử GLBT đã làm vào năm 1999. Mặc dù cộng đồng LGBT+ đã chứng kiến ​​nhiều tranh cãi liên quan đến việc chấp nhận phổ biến đến các nhóm thành viên khác nhau (đặc biệt là các cá nhân song tính và chuyển giới, đôi khi bị cho ra rìa bởi cộng đồng LGBT lớn hơn), thuật ngữ LGBT đã là một biểu tượng tích cực của sự hòa nhập.[16][19]

Mặc dù trên danh nghĩa, LGBT không bao gồm tất cả những từ viết tắt chỉ các cá nhân trong các cộng đồng nhỏ hơn (xem Các biến thể bên dưới), thuật ngữ này thường được chấp nhận để bao gồm những người không được xác định cụ thể trong nghĩa viết tắt của bốn chữ cái.[16][19] Nhìn chung, việc sử dụng thuật ngữ LGBT theo thời gian đã hỗ trợ phần lớn trong việc đưa những cá nhân bị thiệt thòi vào cộng đồng chung.[16][19] Nữ diễn viên chuyển giới Candis Cayne vào năm 2009 đã mô tả cộng đồng LGBT+ là “nhóm thiểu số cuối cùng”, và chú ý rằng “Chúng ta vẫn có thể bị quấy rối một cách công khai” và “bị gọi tên trên truyền hình”.[20]

Vào năm 2016, Hướng dẫn tham khảo về phương tiện truyền thông của GLAAD tuyên bố rằng LGBTQ là thuật ngữ được ưa thích hơn, bởi vì nó bao gồm các thành viên trẻ của cộng đồng chấp nhận từ Queer là một từ tự mô tả bản thân.[21] Tuy nhiên, một số người xem “Queer” là một thuật ngữ xúc phạm có nguồn gốc ngôn từ kích động thù địch và từ chối nó, đặc biệt là một số thành viên lớn tuổi.[22]

Đến nay, có thêm nhiều chữ cái mới và vấn đề vị trí giữa các chữ cái vẫn chưa được giải quyết. Nên nhiều người thường dùng LGBT+ để biểu thị rằng cộng đồng còn bao gồm những nhóm khác.

Các biến thể của thuật ngữ

Tổng quan

Nhiều biến thể bao gồm các thuật ngữ thay đổi vị trí của cái chữ cái như LGBT hay GLBT là những thuật ngữ thông dụng nhất.[16] Tuy giống nhau về nghĩa, LGBT thường mang hàm ý nghiêng về nữ quyền hơn GLBT vì chữ cái “L” (đồng tính nữ) được đặt lên đầu.[16] LGBT cũng bao gồm chữ cái Q tượng trưng cho người “queer” hoặc “băn khoăn về xu hướng tính dục của bản thân” (đôi khi được viết tắt với một dấu hỏi chấm và được dùng cho những người không hẳn là L, G, B hay T), tạo ra những thuật ngữ LGBTQ hay LGBTQQ.[24][25][26] Ở Anh, thuật ngữ được cách điệu thành LGB&T,[27][28], trong khi Đảng Xanh nước Anh và xứ Wales dùng thuật ngữ LGBTIQ trong các ấn phẩm và tuyên ngôn chính thức của mình.[29][30][31]

Thứ tự của các chữ cái không được tiêu chuẩn hóa, ngoài các biến thể giữa các chữ “L” hay “G”, những chữ cái ít thông dụng hơn, nếu được sử dụng, thì có thể được đặt ở bất kỳ vị trí nào.[16] Những thuật ngữ dài dựa trên LGBT thường bị cho là hỗn tạp và quá khó hiểu.[32][33] Các thuật ngữ biến thể thường không tượng trưng cho sự khác biệt về quan điểm chính trị trong cộng đồng, mà thường chỉ đơn giản là nêu lên sự lựa chọn của các cá nhân và nhóm.[34]

Các thuật ngữ như toàn tính (pansexual), omnisexual,fluid (linh hoạt) và queer-identified thường được xem như là những thuật ngữ con thuộc về thuật ngữ song tính (bisexual) (và vì vậy chúng được xem như là một phần của cộng đồng người song tính).

Một vài người dùng LGBT+ để nói về “LGBT và những cộng đồng có liên quan”.[35] Bên cạnh đó, thuật ngữ LGBTQIA cũng thường hay được sử dụng và ba chữ cái viết tắt thêm là “queer, liên giới tính (intersex), và vô tính (asexual)”.[36] Những biến thể khác có thể bao gồm chữ “U” (unsure) cho “không chắc chắn”; “C” (curious) cho “sự tò mò”; thêm một chữ “T” (transvestite) cho “người ăn mặc xuyên giới”; “TS”, hoặc “2” cho “hai tâm hồn” (two-spirit); “SA” (strangiht allies) cho những “đồng minh dị tính”.[37][38][39][40][41] Tuy nhiên sự bao gồm đồng minh dị tính vào thuật ngữ LGBT đã dấy lên tranh cãi khi mà những người dị tính đã dùng phong trào LGBT để tăng sự nổi tiếng và địa vị trong những năm gần đây,[42] và nhiều nhà hoạt động xã hội LGBT đã chỉ trích thế giới quan định chuẩn hóa dị tính của những người dị tính nhất định.[43] Một vài người thêm chữ “P” (polyamorous) đa tính, chữ “H” cho “những người nhiễm HIV ” hay “O” (other) khác.[16][44] Còn thuật ngữ LGBTIH được sử dụng ở Ấn Độ để bao gồm hijra third gender những tiểu văn hóa có liên quan.[45][46]

Thuật ngữ LGBTTQQIAAP (đồng tính nữ, đồng tính nam, người song tính, chuyển giới, transsexual, queer, khám phá tính dục, liên giới tính, vô tính, đồng minh, toàn tính cũng được tạo ra, nhưng gặp nhiều chỉ trích vì quá rắc rối, và không bao gồm một số nhóm thiểu số khác cũng như là vấn đề về vị trí của các chữ cái trong thuật ngữ mới.[32] Tuy nhiên, việc thêm cụm từ “đồng minh” (allies) vào thuật ngữ đã dẫn đến tranh cãi,[47] vì một số người xem sự bao gồm của “ally” thay thế cho “asexual” như là một cách xóa bỏ sự hiện diện của người vô tính.[48] Ngoài ra, còn có thuật ngữ QUILTBAG (queer and questioning, unsure, intersex, lesbian, transgender and two-spirit, bisexual, asexual and aromantic, and gay and genderqueer).[49]

Tương tự, LGBTIQA+ tượng trưng cho “đồng tính nữ, đồng tính nam, người song tính, chuyển giới, liên giới tính, queer/questioning, vô tính/vô ái/vô giới và nhiều cụm từ khác (như phi nhị giới và toàn tính)”.[50] Dấu cộng sau chữ “A” có thể chỉ một chữ A thứ hai tượng trưng cho đồng minh (allies).[51]

Ở Canada, cộng đồng đôi khi được xác định là LGBTQ2 (Đồng tính nữ, Đồng tính nam, Song tính, Chuyển giới, Queer và Hai tâm hồn).[52] Tùy thuộc vào từng tổ chức mà sự lựa chọn về chữ viết tắt sẽ khác nhau. Các doanh nghiệp và CBC thường sử dụng cụm từ LGBT làm đại diện cho bất kỳ từ viết tắt nào dài hơn, còn các nhóm hoạt động tư nhân thường sử dụng LGBTQ+,[53] trong khi các nhà cung cấp dịch vụ y tế công cộng ưu tiên LGBT2Q+ để phù hợp với những người bản địa hai tâm hồn.[54] Trong một khoảng thời gian, tổ chức Pride Toronto đã sử dụng từ viết tắt khá dài LGBTTIQQ2SA, nhưng dường như đã bỏ cụm từ này để dùng những cụm từ đơn giản hơn.[55]

Sự gồm có người chuyển giới

Cụm từ trans* đã được tiếp nhận bởi một số nhóm như là một từ thay thế bao hàm cho “transgender” (chuyển giới), khi mà trans (không có dấu hoa thị) được sử dụng để mô tả người chuyển giới nam và người chuyển giới nữ, trong khi trans* bao hàm tất cả những bản dạng phi hợp giới bao gồm người chuyển giới, transsexual (người chuyển giới muốn trị liệu định giới), ăn mặc xuyên giới, đa dạng giới, linh hoạt giới, phi nhị giới, genderfuck, genderless, vô giới, non-gendered, giới thứ ba, song linh, song giới, chuyển giới nam và chuyển giới nữ.[56][57] Tương tự, cụm từ transsexual thường thuộc trong transgender, nhưng một số người transsexual phản đối điều này.[16]

Khi không gồm có người chuyển giới, thuật ngữ rút gọn LGB được sử dụng thay vì LGBT. [ 16 ] [ 58 ]

Sự gồm có người liên giới tính

Mối quan hệ của người liên giới tính với các cộng đồng đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới,[59] queer là rất phức tạp, nhưng những người liên giới tính thường được thêm vào danh mục LGBT để tạo ra một cộng đồng LGBTI. Một số người liên giới tính ưa thích thuật ngữ LGBTI hơn, trong khi những người khác lại muốn họ không được đưa vào như một phần của thuật ngữ này.[60][61] Emi Koyama mô tả cách đưa người liên giới tính vào LGBTI có thể không giải quyết được các vấn đề nhân quyền cụ thể của người liên giới tính, bao gồm cả việc tạo ra ấn tượng sai lầm “rằng quyền của người liên giới tính được bảo vệ bởi luật bảo vệ người LGBT, và không thừa nhận rằng nhiều người liên giới tính không phải là LGBT.[62] Tổ chức Intersex International Australia tuyên bố rằng một số cá nhân liên giới tính bị thu hút bởi những người cùng giới tính và một số người dị tính, nhưng “hoạt động LGBTI đã đấu tranh cho quyền của những người nằm ngoài hệ nhị phân giới tính và ngoài những chuẩn mực giới”.[63][64] Julius Kaggwa của SIPD Uganda đã viết rằng, trong khi cộng đồng người đồng tính” cung cấp cho chúng tôi một nơi an toàn tương đối, họ cũng không để ý đến/ không nhận biết được nhu cầu cụ thể của chúng tôi”.[65]

Nhiều nghiên cứu và điều tra đã cho thấy tỷ suất mê hoặc đồng giới cao hơn ở những người liên giới tính, [ 66 ] [ 67 ] một điều tra và nghiên cứu gần đây của Úc về những người sinh ra với những đặc thù giới tính khác thường cho thấy 52 % người được hỏi không phải là người dị tính, [ 68 ] [ 69 ] do đó nghiên cứu và điều tra về đối tượng người dùng liên giới tính đã được sử dụng để mày mò những phương tiện đi lại ngăn ngừa đồng tính luyến ái. [ 66 ] [ 67 ] Là trường hợp được sinh ra với những đặc thù giới tính không tương thích với những chuẩn mực xã hội, [ 70 ] người liên giới tính hoàn toàn có thể được phân biệt với người chuyển giới, [ 71 ] [ 72 ] [ 73 ] trong khi một số ít người liên giới tính là cả liên giới tính và chuyển giới. [ 74 ]

Sự chỉ trích về thuật ngữ

Từ viết tắt LGBT hay GLBT không có được sự đồng thuận của mọi người vì chúng không bao gồm tất cả.[76] Ví dụ, một vài người tranh luận rằng bản chất người chuyển giới thì không giống như là đồng tính nam, đồng tính nữ và người song tính (LGB).[77] Tranh luận này xoay quanh vấn đề rằng là một người chuyển giới thì liên quan nhiều đến bản dạng giới hoặc sự hiểu biết của một người về việc là nam hay nữ, mà không kể đến xu hướng tính dục của họ.[16] Những vấn đề về LGB có thể được xem như là vấn đề về xu hướng và sự hấp dẫn tính dục.[16] Những sự khác biệt này đã được nêu ra trong bối cảnh chính trị, điều mà những mục tiêu của LGB như là hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và nhân quyền (điều mà không bao gồm người chuyển giới và người liên giới tính), có thể được xem là khác với những mục tiêu của người chuyển giới.[16]

Một niềm tin vào ” chủ nghĩa ly khai đồng tính nam và đồng tính nữ ” ( tránh nhầm lẫn với ” chủ nghĩa ly khai đồng tính nam và đồng tính nữ ” ) tin rằng những người đồng tính nam và đồng tính nữ xây dựng ( hoặc nên hình thành ) một hội đồng tách biệt với những nhóm khác thường được gồm có trong khoanh vùng phạm vi LGBTQ. [ 78 ] Những người theo chủ nghĩa ly khai mặc dầu không phải khi nào cũng có đủ số lượng để được xem là một trào lưu nhưng họ là một tác nhân quan trọng, tích cực và thẳng thắn trong hội đồng LGBT. [ 78 ] [ 79 ] [ 80 ] Trong một số ít trường hợp những người theo chủ nghĩa ly khai sẽ chối bỏ sự sống sót và quyền bình đẳng của những người tuy nhiên tính và quy đổi giới tính, [ 79 ] đôi khi gây nên chứng ghét sợ tuy nhiên tính và chuyển giới. [ 78 ] [ 79 ] Đối lập với những người theo chủ nghĩa ly khai, Peter Tatchell thuộc nhóm về nhân quyền LGBT OutRage !, tranh luận rằng tách trào lưu của người chuyển giới ra khỏi LGB sẽ là ” một sự điên rồ về mặt chính trị “, anh nói :

Người Queers cũng như người chuyển giới là những chống lại chuẩn mực về giới. Chúng tôi không tuân theo bất kỳ sự giả định dị tính của hành vi nam nữ, do tại chúng tôi có những mối quan hệ tình cảm và tình dục với người đồng giới. Chúng tôi nên ăn mừng sự độc lạ của mình với những chuẩn mực dị tính đại chúng khác. [ … ] [ 81 ]

Một vài những người đồng tính nam, đồng tính nữ, người song tính và chuyển giới không thích cách mô tả về một “cộng đồng LGBT” hay “LGB” bao hàm tất cả.[82][83] Một số người không tán thành những chiến dịch đoàn kết chính trị xã hội, sự hiện diện và vận động nhân quyền, điều mà thường kèm theo nó là lễ diễu hành tự hào đồng tính.[82][83] Vài người tin rằng nhóm những người phi dị tính lại với nhau làm lưu truyền ý nghĩ rằng việc là người đồng tính/song tính/vô tính/toàn tính/v.v làm cho một người khác biệt do thiếu sót hơn so với người khác.[82] Những người này thường ít được biết đến hơn so với những nhà hoạt động xã hội LGBT đại chúng.[82][83] Vì bộ phận này rất khó để phân biệt với số đông người dị tính, mọi người thường cho rằng tất cả người LGBT ủng hộ phong trào tự do LGBT và sự hiện diện của người LGBT trong xã hội, bao gồm quyền được sống một cuộc đời với cách khác với số đông.[82][83][84] Trong cuốn sách Anti-Gay năm 1996, một tuyển tập các bài luận được chỉnh sửa bởi Mark Simpson, khái niệm bản dạng “một kích cỡ vừa tất cả” dựa trên những khuôn mẫu LGBT bị chỉ trích vì kìm hãm tính cá nhân của cộng đồng LGBT.[85]

Xem thêm: EGBT nghĩa là gì? -định nghĩa EGBT

Viết trong tờ Đài truyền hình BBC News Magazine năm năm trước, Julie Bindel tự hỏi rằng liệu những nhóm giới lúc bấy giờ có cùng nhau san sẻ yếu tố và tiềm năng giống nhau ? Bindel nói đến một vài cách viết tắt khác chỉ những sự phối hợp khác nhau và Kết luận rằng đã đến lúc những liên minh phải được cải cách hoặc tách biệt trọn vẹn. [ 86 ] Vào năm ngoái, câu slogan “ Hãy vô hiệu chữ T ” được hình thành nhằm mục đích khuyến khích những tổ chức triển khai LGBT ngừng ủng hộ người chuyển giới ; trong khi nhận được rất nhiều sự ủng hộ của một vài nhà nữ quyền [ 87 ] [ 88 ] cũng như là 1 số ít người chuyển giới, [ 89 ] nhiều nhóm LGBT lên án chiến dịch này là tẩy chay người chuyển giới. [ 90 ] [ 91 ] [ 92 ] [ 93 ]

Những thuật ngữ sửa chữa thay thế

Nhiều người đã tìm kiếm một thuật ngữ chung để thay thế nhiều từ viết tắt đã có từ trước.[79] Những từ như queer (một thuật ngữ chung cho các nhóm tính dục và giới tính thiểu số không thuộc về dị tính hay nhị nguyên giới) và cầu vồng đã được thử, nhưng hầu hết đều chưa được dùng rộng rãi.[79][94] Queer có nhiều hàm ý tiêu cực, đối với những người lớn tuổi nhớ từ này như một lời chế nhạo và xúc phạm, và cách sử dụng tương tự (một cách tiêu cực) khác đối với thuật ngữ này vẫn còn tiếp diễn.[79][94] Nhiều người trẻ tuổi cũng cho rằng queer có tính chính trị hơn LGBT.[94][95] “Cầu vồng” có ý chỉ những người hippies, các phong trào Thời đại Mới và các nhóm như Gia đình Cầu vồng hoặc Cầu vòng của Jesse Jackson/Liên minh PUSH. SGL (“tình yêu đồng giới”) đôi khi được những người đồng tính nam Mỹ gốc Phi ưa chuộng như một cách để phân biệt mình với cộng đồng LGBT da trắng da trắng thống trị.[96]

Một số người ủng hộ thuật ngữ “nhóm thiểu số tính dục và bản dạng giới” (MSGI, được đặt ra vào năm 2000), hoặc các nhóm thiểu số giới và tính dục/nhóm thiểu số tính dục (GSM) để trực tiếp bao gồm tất cả những người không phải là người dị giới và dị tính; hoặc các nhóm thiểu số giới, tính dục và tình cảm (GSRM), trong đó bao gồm cả các xu hướng lãng mạn thiểu số và sự đa ái; tuy vậy những thuật ngữ đó cũng không được sử dụng rộng rãi.[97][98][99][100][101] Các thuật ngữ bao quát hiếm gặp khác là Đa dạng Giới và Tính dục (GSD),[102] MOGII (Các tính hướng bản lề, Bản dạng giới, và Liên giới tính) và MOGAI (Các tính hướng bản lề, Gender Alignment (Sự giao nhau về giới) và Liên giới tính).[103][104]

Viện Sức khỏe Quốc gia Mỹ đã đóng khung LGBT, những người ” có khuynh hướng tính dục và / hoặc bản dạng giới khác nhau, những người hoàn toàn có thể không tự coi mình là LGBT ” và cả người liên giới tính ( những người bị những chứng rối loạn tăng trưởng giới tính ) là những người ” thiểu số tính dục và giới ( SGM ) “. Định nghĩa này đã dẫn đến sự tăng trưởng của một kế hoạch kế hoạch nghiên cứu và điều tra y tế NIH SGM. [ 105 ] Viện Williams đã sử dụng thuật ngữ tương tự như trong một báo cáo giải trình về những tiềm năng tăng trưởng vững chắc quốc tế, nhưng không gồm có người liên giới tính. [ 106 ]

Tại các cơ sở y tế công cộng, thuật ngữ MSM (“nam quan hệ tình dục với nam”) được sử dụng để mô tả những người đàn ông quan hệ tình dục với những người đàn ông khác mà không đề cập đến xu hướng tính dục của họ, cùng với WSW (“phụ nữ quan hệ tình dục với phụ nữ”) cũng được sử dụng như một thuật ngữ tương tự.[107][108]

Giải thích những thuật ngữ

Đồng tính luyến ái ( Homosexual )

Nói đến người có xu thế tính dục ( sexual orientation ) đồng tính luyến ái gồm có : đồng tính luyến ái nữ ( lesbian ) và đồng tính luyến ái nam ( gay ), gọi tắt là đồng tính. Họ là người cảm thấy sự mê hoặc tình yêu và / hoặc tình dục với người cùng giới tính. Khác với người có xu thế tính dục dị tính luyến ái, là cảm thấy sự mê hoặc tình yêu và / hoặc tình dục với người khác giới tính .

Song tính luyến ái

Chỉ những người có sự mê hoặc tình yêu, tình dục với cả những người cùng giới và khác giới tính một cách lâu dài hơn .

Người chuyển giới

Là những người có bản dạng giới ( nhận định và đánh giá, cảm nhận giới tính ) khác với những đặc thù giới tính của người đó lúc sinh ra, gồm có người chuyển giới đã phẫu thuật và người chuyển giới chưa ( hoặc không qua ) qua phẫu thuật định giới .

Các yếu tố xã hội

Liên Hiệp quốc

Một báo cáo giải trình của tổ chức triển khai GLAAD phát hành vào tháng 2 năm 2011 cho thấy, 90 % số người chuyển giới phải đương đầu với tẩy chay tại nơi thao tác và tỷ suất thất nghiệp gấp đôi tỷ suất chung của dân số. [ 109 ] Hơn 50% số họ đã bị sách nhiễu hoặc bị khước từ khi nỗ lực tiếp cận vào những dịch vụ công cộng. Các thành viên của hội đồng người chuyển giới cũng gặp phải sự phân biệt đối xử trong yếu tố chăm nom sức khỏe thể chất hàng ngày .

Luật pháp

Luật pháp trên quốc tế về đồng tính luyến áiMặc dù đồng tính luyến ái đã không còn bị coi là phạm pháp tại nhiều nơi ở phương Tây, ví dụ điển hình như [ 110 ] [ 111 ] Ba Lan 1932, Đan Mạch 1933, Thụy Điển 1944 và Anh 1967, hội đồng đồng tính vẫn chưa có quyền hợp pháp dẫu chỉ là hạn chế cho đến giữa những năm 70 [ 112 ] [ 113 ] Năm 1977, Québec tại Canada đã trở thành bang tiên phong cấm tẩy chay dựa trên thiên hướng tình dục. [ 113 ] Những năm 80 và 90, nhiều nước tăng trưởng đã hợp pháp hóa đồng tính luyến ái và cấm tẩy chay người đồng tính trong việc làm, cư trú và dịch vụ. Tính tới năm năm ngoái, đã có hơn 20 vương quốc công nhận hôn nhân gia đình đồng tính gồm : Hà Lan – 2001, Bỉ – 2003, Canada – 2005, Tây Ban Nha – 2005, Nam Phi – 2006, Na Uy – 2009, Thụy Điển – 2009, Bồ Đào Nha – 2010, Iceland – 2010, Argentina – 2010, Đan Mạch – 2012, New Zealand – 2013, Uruguay – 2013, Brazil – 2013, Vương Quốc Anh – 2013, Pháp – 2013, Scotland – năm trước, Luxembourg – năm trước, Slovenia – năm ngoái, Phần Lan – năm ngoái, Ireland – năm ngoái, Hoa Kỳ – năm ngoái. Ngoài ra, nhiều vương quốc khác hiện đã công nhận quyền kết hôn của người đồng tính dưới hình thức phối hợp dân sự hoặc ĐK chung sống, một hình thức để những đôi bạn trẻ đồng giới hợp pháp hóa việc chung sống với nhau và hưởng 1 số ít quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giống như như hôn nhân gia đình của những cặp khác giới. Mới đây nhất, ngày 26 tháng 6 năm năm ngoái, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ trải qua quyết định hành động chính thức hợp pháp hóa hôn nhân gia đình đồng giới trên toàn chủ quyền lãnh thổ Hoa Kỳ. [ 114 ]Tuy nhiên, tính đến tháng 7 năm năm ngoái, vẫn có 72 nước có luật hình sự hóa đồng tính luyến ái, hầu hết số đó nằm ở châu Á và châu Phi. Các nước này gồm : Afghanistan, Algeria, Angola, Antigua and Barbuada, Bangladesh, Barbados, Belize, Bhutan, Botswana, Brunei, Burundi, Cameroon, Comoros, Dominica, Egypt, Eritrea, Ethiopia, Gambia, Ghana, Grenada, Guinea, Guyana, India, Iran, Jamaica, Kenya, Kiribati, Kuwait, Liberia, Libya, Malawi, Malaysia, Maldives, Mauritania, Morocco, Myanmar, Namibia, Nauru, Nigeria, Oman, Pakistan, Papua New Guinea, Qatar, Saint Kitts and Nevis, Saint Lucia, Saint Vincent và Grenadines, Samoa, Saudi Arabia, Senegal, Seychelles, Sierra Leone, Nước Singapore, Solomon Islands, Somalia, South Sudan, Sri Lanka, Sudan, Swaziland, Syria, Tanzania, Togo, Tonga, Trinidad và Tobago, Tunisia, Turkmenistan, Tuvalu, Uganda, United Arab Emirates, Uzbekistan, Yemen, Zambia và Zimbabwe. [ 115 ] Trong số trên có 7 nước hồi giáo gồm : Afghanistan, Saudi Arabia, Brunei, Iran, Yemen và Nigeria có hình phạt tử hình với người đồng tính luyến ái. [ 116 ]

Tới năm 2013, chưa có quốc gia Châu Á nào công nhận hôn nhân đồng tính hoặc đăng ký sống chung. Tại Thái Lan có cộng đồng LGBT sôi nổi, nhưng điều này chỉ có ở ngành kinh doanh giải trí thu lợi nhuận vốn tách biệt với nền chính trị và xã hội Thái bảo thủ.[117] Năm 2014, một dự luật hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính được soạn thảo bởi Quốc hội Thái Lan và được hỗ trợ từ cả hai Đảng, nhưng sau đó đã bị đình trệ do khủng hoảng chính trị trong nước.[118] Tuy nhiên ngày 13 tháng 3 năm 2015, Thái Lan đã ban hành Luật bình đẳng giới (có hiệu lực từ ngày 09 tháng 09 năm 2015), trong đó bao gồm cả các điều khoản luật chống kỳ thị đối với người LGBT và hình sự hóa các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử cộng đồng LGBT. Trong đó, hành vi “phân biệt đối xử giữa các giới tính” có thể bị phạt từ 20.000 Bath (tương đương khoảng 13 triệu VNĐ) cho đến 6 tháng tù giam.[119]

Ở những quốc gia Hồi giáo như Indonesia đã ban hành luật cấm nghiêm khắc chống lại người đồng tính. Quan hệ tình dục đồng tính có thể bị phạt 20 năm tù và bị đánh roi ở Malaysia. Năm 2003 ở Đài Loan, một dự luật được đưa ra để công nhận hôn nhân đồng tính đã không đạt đủ số phiếu để thông qua.[117]. Tháng 7 năm 2015, chính quyền Đài Loan tuyên bố có kế hoạch soạn thảo một bộ luật để hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới nhằm củng cố vị trí của cộng đồng LGBT trong xã hội Đài Loan[120]. Ở Nhật Bản, văn hóa và những tôn giáo lớn không có thái độ thù ghét những cá nhân đồng tính, nước này không có luật nào chống lại đồng tính luyến ái nhưng hôn nhân đồng tính thì không được công nhận.[121]. Năm 2010, trong khuôn khổ Diễn đàn nhân dân ASEAN, Mạng lưới Xu hướng tính dục và Bản dạng giới ASEAN được hình thành. Đây là lần đầu tiên, quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới được nhắc đến trong tuyên bố chung của Diễn đàn thường niên, đặt nền tảng cho những hoạt động tích cực của mạng lưới để thúc đẩy quyền của LGBT trong khu vực[122].

Ở khu vực Trung Đông vốn tập trung chuyên sâu nhiều nước đạo Hồi, đồng tính luyến ái bị pháp lý cấm nghiêm khắc. Duy nhất ở Israel, quyền của người đồng tính được pháp lý tương hỗ. [ 123 ] Israel là nước có tỉ lệ ủng hộ hôn nhân gia đình đồng giới cao nhất quốc tế với 61 % người dân ủng hộ. [ 124 ] Israel là nước Trung Đông tiên phong và duy nhất cho đến nay công nhận sự chung sống không ĐK của cặp đôi đồng giới. Mặc dù chưa công nhận hôn nhân gia đình đồng giới, Israel là vương quốc Trung Đông tiên phong và duy nhất cho đến nay công nhận hôn nhân gia đình đồng giới ở nước khác. Kỳ thị dựa trên thiên hướng tình dục bị cấm vào năm 1992. Theo một quyết định hành động năm 2008, những cặp đồng giới cũng được quyền nhận con nuôi. Ở đây, người đồng tính được quyền công khai minh bạch tham gia quân ngũ. [ 125 ] [ 126 ] [ 127 ] [ 128 ] [ 129 ] [ 130 ] [ 131 ] [ 132 ]Với người chuyển giới, hiện tại đã có hơn 25 vương quốc và vùng chủ quyền lãnh thổ công nhận người chuyển giới. Cho đến năm năm trước, những vương quốc đã công nhận và được cho phép phẫu thuật chuyển giới gồm có : Thụy Điển ( 1972 ), Đức ( 1981 ), Italia ( 1982 ), Hà Lan ( 1985 ), Thổ Nhĩ Kỳ ( 1988 ), Trung Quốc ( 2003 ), Nhật Bản ( 2004 ), New Zealand ( 1995 ), Panama ( 1975 ), Romani ( 1996 ), Nam Phi ( 2003 ), Iran, Vương quốc Anh ( 2004 ), Tây Ban Nha ( 2006 ), Urugoay ( 2009 ), Bồ Đào Nha ( 2011 ), Ấn Độ, Lithuana, Serbia, Argentina, Malaysia, Thailand, Nước Singapore, Philippines, Hồng Kông – Trung Quốc, Đài Loan, Nước Hàn ( năm 2012 ) và nhiều bang, vùng của nước Australia, Canada, Hoa Kỳ [ 133 ] … nước Australia, New Zealand và Nepal đã cấp hộ chiếu ( visa ) công nhận người chuyển giới, trong đó những người không thuộc giới tính ” M ” hay ” F ” hoàn toàn có thể chọn chữ ” X ” thay thế sửa chữa [ 134 ] [ 135 ]. Tháng 8/2015, Hoa Kỳ đã chỉ định cô Raffi Freedman-Gurspan – một người chuyển giới nữ công khai minh bạch, giữ chức vụ Giám đốc khai thác và tuyển dụng nhân sự ship hàng cho Tổng thống [ 136 ] .

Tháng 4 năm 2014, Toà án tối cao Ấn Độ đã ra phán quyết công nhận người chuyển giới là “giới tính thứ ba” trong luật pháp, cho phép người chuyển giới thực hiện chuyển đổi giới tính và sửa lại giới tính của mình trong các giấy tờ pháp lý là giới tính thứ 3 (không phải nam cũng không phải nữ) giống như Nepal, luật đã có tác động tới khoảng 3 triệu người chuyển giới tại Ấn Độ[137][138][139]. Tuy nhiên, hành vi đồng tính tại Ấn Độ thì sẽ bị phạt nặng, có thể lên tới 10 năm tù giam[140][141]

Công khai

Mức độ công khai minh bạch thiên hướng tình dục của những người LGBT nhờ vào vào việc họ sống trong một thiên nhiên và môi trường phân biệt đối xử ra làm sao, cũng như thực trạng về quyền LGBT nơi họ sinh sống [ 1 ] .Có nhiều người LGBT nổi tiếng công khai minh bạch thiên hướng tình dục đồng tính, trong đó có cả nhiều nguyên thủ vương quốc, nhà chỉ huy những tập đoàn lớn số 1 quốc tế như : Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettel [ 142 ], nữ thủ tướng Iceland Johanna Sigurdardottir [ 143 ], Tim Cook – Giám đốc điều hành quản lý của Tập đoàn Apple, Robert Hanson – Giám đốc Tập đoàn về trang sức đẹp John Hardy, Anthony Watson – Giám đốc thông tin tập đoàn lớn Nike, John Browne – CEO Tập đoàn dầu khí BP của Anh, Christopher Bailey – CEO của Tập đoàn kinh doanh nhỏ hạng sang Burberry ( Anh ), Nick Denton – Nhà sáng lập Tập đoàn Gawker Media của Hoa Kỳ, Robert Greenblatt – quản trị hãng tiếp thị quảng cáo NBC Entertainment của Hoa Kỳ [ 144 ], Trevor Burgess – Giám đốc quản lý Ngân hàng St. Peterburg [ 145 ], Lisa Brummel – nữ Phó quản trị Bộ phận nhân lực của Microsoft, Peter Thiel – Cựu Tổng Giám đốc Tập đoàn PayPal kiêm nhà đầu tư tiên phong Facebook, Chris Hughes – người đồng sáng lập và là người phát ngôn của Facebook, Megan Smith – nữ phó chủ tịch Google x, Giám đốc tổ chức triển khai công nghệ tiên tiến Linux Internationa, Bob Page – Giám đốc quản lý Tập đoàn Replacement ( nhà kinh doanh bán lẻ lớn nhất quốc tế về những mẫu sản phẩm đồ vật thời cổ xưa, pha lê và bạc ) [ 146 ] [ 147 ] …Một số ngôi sao 5 cánh vui chơi nổi tiếng Hollywood, ca sĩ, MC nổi tiếng cũng công khai minh bạch là người đồng tính như : Ricky Martin, nam diễn viên nổi tiếng Neil Patrick Harris, Wentworth Miller – nam diễn viên chính phim ” Vượt ngục “, Ben Whishaw – nam diễn viên chính của phim ” Điệp viên 007 “, nam diễn viên hành vi số 1 Hollywood Luke Evans, Jodie Foster – nữ diễn viên chính phim ” Sự tĩnh mịch của bầy cừu ” ( người từng đoạt 2 giải Quả cầu vàng và 2 giải Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất ), Raven-Symone – nữ ngôi sao 5 cánh phim ” Cosby Show “, Nữ MC thành danh nhất quốc tế Ellen DeGeneres ( bảy lần đoạt giải Emmy cho Người dẫn chương trình truyền hình xuất sắc nhất ), Á quân của American Idol Adam Lambert … [ 148 ] [ 149 ] [ 150 ] [ 151 ] .Nhiều cầu thủ bóng đá cũng công khai minh bạch mình là người đồng tính như : Thomas Hitzlsperger ( từng 52 lần đại diện thay mặt cho Đội tuyển vương quốc Đức ) [ 152 ], Robbie Rogers, David Testo, Anton Hysén, Thomas Berling, Jonathan De Falco, Marcus Urban, Justin Fashanu, Liam Davis … [ 153 ]. Vào tháng 4/2015, 2 tuyển thủ trụ cột của Đội tuyển bóng đá Vương Quốc của nụ cười là Charyl Chappuis và Chanathip Songkrasin đã gây giật mình khi công khai minh bạch quan hệ đồng tính. [ 154 ]Năm năm nay, có 1 cựu đại sứ và 6 đại sứ đương nhiệm của Hoa Kỳ là người đồng tính, gồm : David Huebner – cựu đại sứ Hoa Kỳ tại New Zealand ; Đại sứ Hoa Kỳ tại Tổ chức bảo mật an ninh và hợp tác châu u ( OSCE ), James Costos – đại sứ tại Tây Ban Nha ; Rufus Gifford – đại sứ tại Đan Mạch ; James ” Wally ” Brewster – đại sứ tại Dominica và Ted Osius – đại sứ Hoa Kỳ tại Nước Ta [ 155 ] .

Trích dẫn

Quan điểm chính thức của Giáo hội Công giáo Rôma với hơn 1 tỷ Fan Hâm mộ trên toàn quốc tế, đại diện thay mặt là Tòa Thánh Vatican, phân biệt giữa khuynh hướng đồng tính và hành vi đồng tính, đồng thời tiếp đón người đồng tính nhưng không đồng ý hôn nhân gia đình đồng tính. Một mặt, Tòa thánh lôi kéo bao dung và phản đối những hành vi bạo hành chống người đồng tính, ” phải tiếp đón họ với lòng tôn trọng, thông cảm và tế nhị, tránh đối xử bất công “, [ 156 ] nhưng mặt khác, Tòa thánh nhất quyết chống lại hôn nhân gia đình đồng giới để bảo vệ giá trị của mái ấm gia đình truyền thống lịch sử và đức tin Ki-tô giáo. Giáo hoàng hưu trí Biển Đức XVI khi còn tại vị đã liên tục quan điểm này khi cho rằng hôn nhân gia đình đồng tính cấu thành hành vi chống lại thực sự thực chất của con người. Đó là một nỗ lực không stress của cả Vatican mà người đứng đầu là Giáo hoàng, nhằm mục đích cố gắng nỗ lực thức tỉnh Hoa Kỳ và một loạt những nước châu u đang yên cầu công nhận hôn nhân gia đình đồng tính trong thời hạn qua. Giáo hoàng Biển Đức XVI đã lên tiếng bày tỏ quan điểm rằng : hôn nhân gia đình đồng tính là phi tự nhiên và hoàn toàn có thể gây nhiều phẫn nộ tác động ảnh hưởng tới tự do và công lý trên quốc tế. Giáo hoàng Biển Đức XVI từng lôi kéo : [ 157 ] [ 158 ]

Chúng ta cần phải phổ cập và lan truyền kiến thức về hôn nhân tự nhiên trong sự giao hòa giữa phái nam và phái nữ nhằm gia tăng nỗ lực chống lại mọi sự dị biến hôn nhân. Những dị biến như thế làm mất ổn định tính tự nhiên của hôn nhân, che lấp bản chất vốn có của hôn nhân và làm phai nhạt vai trò quan trọng của nó đối với xã hội. Nguyên tắc hôn nhân này không phải là chân lý đức tin mà đơn giản là hệ quả tất yếu của quyền tự do tôn giáo, thể hiện bản chất của con người và là một thành quả phát triển của nhân loại. […] Hãy biết thêm về giá trị của gia đình và hôn nhân. Là tín đồ Kitô, chúng ta có bổn phận bảo vệ nguyên tính và nhất thống của hôn nhân giữa một người nam và một người nữ trước bất kỳ hình thức diễn dịch lệch lạc nào.

Các yếu tố y tế

Theo báo cáo giải trình quá trình phòng, chống HIV / AIDS năm 2012, tỉ lệ nhiễm HIV trong những người nam quan hệ tình dục với nam ở Thành phố Hồ Chí Minh là 16 %, tỷ suất chỉ đứng sau nhóm tiêm chích ma túy. Tại đây, cứ 5 nam quan hệ đồng giới thì có một người nhiễm tối thiểu một trong những nhiễm khuẩn giang mai, lậu sinh dục, lậu trực tràng, chlamydia sinh dục hoặc chlamydia trực tràng. [ 159 ] Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ lây nhiễm HIV / AIDS cao do một đồng tính nam thường có nhiều bạn tình, họ thường trình làng bạn tình cho nhau và cùng quan hệ, nên chỉ cần 1 người nhiễm HIV thì sẽ nhanh gọn lây lan sang những đối tượng người tiêu dùng khác. Bên cạnh đó, những đồng tính nam thường ý niệm sai lầm đáng tiếc rằng, chỉ có quan hệ khác giới mới bị nhiễm HIV, giang mai, mào gà … còn đồng tính thì không. Họ ít khi sử dụng những giải pháp phòng tránh khi quan hệ tình dục như một khảo sát của Ban quản trị dự án Bất Động Sản phòng chống HIV / AIDS ( Nước Ta ) trên 300 đồng tính nam cho thấy 1 số ít chỉ sử dụng bao cao su với bạn tình mới quen lần đầu, khi thân rồi họ không đề phòng nữa. [ 160 ]Năm 2003, một nghiên cứu và điều tra về đồng tính nam ở Hà Lan được công bố trong Tạp chí AIDS phát hiện ra rằng ” thời hạn có quan hệ không thay đổi ” với mỗi bạn tình chỉ là 1 năm rưỡi, và mỗi đồng tính nam có trung bình 8 đối tác chiến lược tình dục mỗi năm. [ 161 ] Năm 2010, báo cáo giải trình của Trung tâm trấn áp dịch bệnh Mỹ ( CDC ) cho biết trong số những ca nhiễm HIV mới ở Hoa Kỳ thì số ca là nam người trẻ tuổi đồng tính trẻ tuổi cao hơn rất nhiều so với mức chung, có nhiều nguyên do cho việc này :

Tỷ lệ bị nhiễm HIV trong cộng đồng đồng tính luyến ái nam vốn cao, làm tăng khả năng lây nhiễm trong cộng đồng so với dân số thông thường.[162]Các yếu tố xã hội như thành kiến và thiếu khả năng tiếp cận hệ thống y tế đối với cộng đồng này.Nam giới trẻ có quan hệ đồng giới thường có các hành vi nguy cơ cao (như quan hệ tình dục với nhiều hơn 4 bạn tình, tiêm chích ma túy).

Thống kê của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ năm 2011 cho biết: nam đồng tính có khả năng nhiễm HIV cao gấp 44 tới 86 lần so với nam giới bình thường, và cao gấp 40 tới 77 lần so với nữ giới.[163] Năm 2009, thống kê cho biết có 61% số ca nhiễm HIV mới ở Mỹ là đồng tính hoặc song tính, dù nhóm này chỉ chiếm khoảng 2% dân số Mỹ.[164]

Xem thêm: EGBT nghĩa là gì? -định nghĩa EGBT

Hoa Kỳ hiện đang cấm nhóm đối tượng nam quan hệ tình dục với nam đi hiến máu “vì họ là một nhóm có nguy cơ cao bị nhiễm HIV, viêm gan B và một số bệnh nhiễm trùng khác có thể được lây truyền qua truyền máu” Vương quốc Anh và nhiều nước châu u đã cấm tương tự.[165][166]

Xem thêm

Tham khảo

Liên kết ngoài

Tìm hiểu thêm: Hướng dẫn xem giá trị tài sản ròng trên bảng cân đối kế toán